Test Thăng Bằng Trong Phục Hồi Chức Năng

Đăng ngày 22 Tháng Chín, 2026 bởi HaiMinh

1. Test thăng bằng là gì và vì sao “nhắm mắt đứng chụm chân” chưa đủ

1.1. Ba hệ giác quan và quy tắc hai trong ba

Cơ thể giữ thăng bằng bằng ba nguồn thông tin: thị giác, cảm thụ bản thể (proprioception) và tiền đình. Nguyên tắc cốt lõi là chỉ cần hai trong ba hệ hoạt động tốt là người ta vẫn đứng vững.

Toàn bộ logic của các nghiệm pháp bên dưới nằm ở đây. Bịt mắt là để loại thị giác, buộc hai hệ còn lại phải làm việc một mình. Thu hẹp chân đế là để giảm biên độ dung sai. Khi một người ngã lúc nhắm mắt, điều đó nói rằng ít nhất một trong hai hệ còn lại đã có vấn đề.

1.2. Thăng bằng tĩnh, thăng bằng động và thăng bằng khi đang đi là ba thứ khác nhau

Một người có thể đứng yên rất vững nhưng vẫn ngã khi quay đầu lúc đang bước. Đứng yên là bài toán giữ trọng tâm trong chân đế cố định. Đi lại là bài toán liên tục đưa trọng tâm ra ngoài chân đế rồi bắt lại. Đó là lý do một bộ lượng giá đầy đủ luôn cần ít nhất một test tĩnh và một test khi đang di chuyển.

1.3. Ở Việt Nam, lượng giá thăng bằng là một quy trình kỹ thuật có mã số

Ngày 14/11/2025, Bộ Y tế ban hành ba quyết định 3553, 3554 và 3555/QĐ-BYT, tương ứng Tập 1, Tập 2 và Tập 3 của tài liệu “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về Phục hồi chức năng”. Cả ba đều do Thứ trưởng Trần Văn Thuấn ký và có hiệu lực từ ngày ký.

Điều 4 của Quyết định 3553/QĐ-BYT thay thế bốn quyết định trước đó:

Quyết định bị thay thế

Ngày ban hành

54/QĐ-BYT

06/01/2014

5737/QĐ-BYT

22/12/2017

2520/QĐ-BYT

18/06/2019

3665/QĐ-BYT

28/09/2023

Trong Tập 1 gồm 204 quy trình, lượng giá thăng bằng là quy trình số 112, mã 17.119, đứng ngay sau quy trình số 111, mã 17.118 “Lượng giá chức năng dáng đi”. Tập 1 còn có các quy trình can thiệp liên quan: 17.37 tập ngồi thăng bằng tĩnh và động, 17.39 tập đứng thăng bằng tĩnh và động, 17.40 tập dáng đi, 17.68 tập thăng bằng với bàn bập bênh, 17.69 tập với máy tập thăng bằng.

Có một chi tiết đáng chú ý. Trong danh mục 204 quy trình của Tập 1, không có quy trình nào mang tên Berg, Tinetti, Timed Up and Go hay Romberg. Bộ Y tế đặt tên theo chức năng được lượng giá, không chỉ định thang điểm cụ thể. Việc chọn công cụ nào thuộc về chuyên môn của cơ sở.

Riêng Functional Gait Assessment thì có tên đích danh, nhưng nằm ở Tập 2 theo Quyết định 3554/QĐ-BYT, quy trình số 122 “Kỹ thuật lượng giá dáng đi chức năng (functional gait assessment)”. Ngay sau đó là quy trình số 123 “Nghiệm pháp đi bộ 10 mét”.

Nếu tài liệu nội bộ tại cơ sở của bạn vẫn đang trích Quyết định 54/2014 hoặc 5737/2017, đó là văn bản đã hết hiệu lực từ tháng 11/2025.

He thong do luyn tap danh gia thang bang 01 - Test Thăng Bằng Trong Phục Hồi Chức Năng

2. Sáu nghiệm pháp: cách làm, ngưỡng cắt và giới hạn

2.1. Nghiệm pháp Romberg (Romberg test)

Cách làm. Người bệnh đứng chụm hai bàn chân, tay buông dọc thân hoặc khoanh trước ngực. Đo hai lần: mở mắt trước, nhắm mắt sau. Đếm số giây giữ được khi nhắm mắt.

Dương tính khi người bệnh không giữ được thăng bằng lúc nhắm mắt. Biểu hiện gồm tăng dao động thân mình, phải bước một chân về phía đang ngã, hoặc ngã hẳn.

Biến thể tandem dùng khi bản gốc quá dễ: đặt hai bàn chân trên một đường thẳng theo kiểu gót chạm mũi, hai tay bắt chéo trước ngực, lòng bàn tay đặt lên vai đối diện.

Romberg kiểm tra chức năng cột sau tủy sống, tức cảm thụ bản thể. Đây không phải test tiểu não. Người tổn thương tiểu não thuần túy đã loạng choạng ngay khi mở mắt, nên nghiệm pháp không phân biệt được nhóm này. Tài liệu chuyên môn cũng ghi nhận Romberg có độ nhạy và độ đặc hiệu thấp, và không nêu con số cụ thể. Bài này không in con số nào vì nguồn gốc không cung cấp.

2.2. Thang điểm Berg (Berg Balance Scale)

Nguồn gốc: Berg KO, Wood-Dauphinee SL và cộng sự, Canadian Journal of Public Health, 1992, tập 83 phụ trương 2, trang S7 đến S11.

Cấu trúc: 14 mục, mỗi mục chấm từ 0 đến 4 điểm, tổng tối đa 56 điểm. Thời gian thực hiện 15 đến 20 phút. Không yêu cầu đào tạo đặc biệt.

Dụng cụ cần chuẩn bị:

  • Đồng hồ bấm giây
  • Ghế cao 18 đến 20 inch, cần cả loại có tay vịn và không tay vịn
  • Bục cao 7,75 đến 9 inch
  • Thước
  • Một chiếc dép hoặc giày

14 mục theo đúng thứ tự gốc:

#

Mục

1

Ngồi sang đứng

2

Đứng không đỡ

3

Ngồi không đỡ

4

Đứng sang ngồi

5

Di chuyển (transfer)

6

Đứng nhắm mắt

7

Đứng hai chân sát nhau

8

Với tay ra trước

9

Nhặt vật dưới sàn

10

Quay đầu nhìn ra sau

11

Xoay 360 độ

12

Đặt luân phiên bàn chân lên bục

13

Đứng chân trước chân sau

14

Đứng một chân

Ngưỡng cắt theo nghiên cứu gốc Berg 1992: 56 điểm là thăng bằng chức năng bình thường; dưới 45 điểm cho thấy nguy cơ ngã cao hơn; ở người sau đột quỵ, ngưỡng là từ 49 điểm trở xuống.

Con số quan trọng nhất mà hầu hết tài liệu bỏ qua là MDC, tức thay đổi nhỏ nhất phát hiện được. Theo Donoghue và Stokes (2009, cỡ mẫu 118 người cao tuổi), mức thay đổi có ý nghĩa lâm sàng phụ thuộc vào điểm ban đầu:

Điểm Berg ban đầu

Cần thay đổi ít nhất

45 đến 56

4 điểm

35 đến 44

5 điểm

25 đến 34

7 điểm

0 đến 24

5 điểm

Ở nhóm đột quỵ giai đoạn cấp, MDC là 6,9 điểm (Stevensen 2001, cỡ mẫu 48). Ở đột quỵ giai đoạn mạn, MDC là 2,5 điểm (Liston và Brouwer 1996, cỡ mẫu 22).

Ý nghĩa thực hành rất cụ thể. Nếu người bệnh đang ở mức 48 điểm và lần đo sau được 50 điểm, đó chưa phải tiến bộ, vì chênh lệch 2 điểm nằm dưới ngưỡng sai số đo của chính công cụ.

Độ tin cậy: ICC nội người đánh giá và liên người đánh giá đều đạt 0,98, nhưng trên cỡ mẫu chỉ 22 người liệt nửa người.

Hạn chế đã được ghi nhận: hiệu ứng trần ở bệnh Parkinson với 10% người đạt điểm tuyệt đối (Leddy 2011); hiệu ứng sàn 35% ở ngày thứ 14 sau đột quỵ (Mao 2002). Tài liệu chuyên môn kết luận thang Berg chỉ có độ chính xác chẩn đoán ở mức trung bình khi dùng một mình để dự báo ngã, và nên đọc cùng tiền sử ngã cùng các thước đo khác.

Ghi chú minh bạch: một số tài liệu lưu hành nêu các ngưỡng bổ sung kèm độ nhạy 91% và độ đặc hiệu 82%. Chúng tôi chưa tiếp cận được nghiên cứu gốc của các con số này để kiểm tra cỡ mẫu, nên bài viết không in chúng.

2.3. Timed Up and Go (TUG) 

Cách làm theo CDC: ghế có tay vịn, vạch cách ghế 3 mét (10 feet). Tính giờ từ lúc người bệnh đứng dậy, đi tới vạch, quay lại, đến khi ngồi xuống ghế.

Ngưỡng của CDC: từ 12 giây trở lên được xem là có nguy cơ ngã. Nguyên văn trong tài liệu STEADI: “An older adult who takes ≥12 seconds to complete the TUG is at risk for falling.”

Đây là phần quan trọng nhất của mục này. Barry E và cộng sự, BMC Geriatrics 2014, bài số 14:14, đã tổng quan hệ thống 25 nghiên cứu thuần tập tiến cứu và phân tích gộp 10 bộ dữ liệu với 2.314 người. Tại ngưỡng 13,5 giây được dùng phổ biến:

Chỉ số

Giá trị (95% CI)

Độ nhạy

0,32 (0,14 đến 0,57)

Độ đặc hiệu

0,73 (0,51 đến 0,88)

AUC

0,57 (0,54 đến 0,59)

AUC 0,57 gần với mức của một phép đoán ngẫu nhiên, vốn là 0,50. Một công cụ chẩn đoán được xem là tốt thường cần AUC từ 0,80 trở lên. Kết luận nguyên văn của nhóm tác giả: Timed Up and Go “should not be used for identifying community dwelling adults at high risk of falls in clinical practice.”

Cách dùng đúng. Timed Up and Go là thước theo dõi thay đổi theo thời gian của chính một người, không phải công cụ sàng lọc nguy cơ ngã. Và khi đo lại, phải giữ nguyên ghế, giày, đường đi và ngưỡng đã chọn. Nếu cơ sở dùng ngưỡng 12 giây thì ghi rõ 12 giây trong hồ sơ, không để trống.

2.4. 4-Stage Balance Test: test rẻ nhất và nhanh nhất

Thuộc bộ STEADI của CDC. Gồm bốn tư thế theo thứ tự tăng dần độ khó:

  1. Hai bàn chân song song sát nhau
  2. Mu bàn chân này chạm ngón cái bàn chân kia
  3. Tư thế tandem, gót chân trước chạm mũi chân sau
  4. Đứng một chân

Quy tắc thực hiện: mỗi tư thế giữ 10 giây. Nếu giữ được thì chuyển sang tư thế tiếp theo. Nếu không giữ được thì dừng test tại đó, không đi tiếp. Người bệnh mở mắt và không dùng dụng cụ trợ giúp.

Người đo mô tả và làm mẫu từng tư thế, đứng cạnh giữ tay người bệnh để vào đúng tư thế, rồi mới buông ra và bấm giờ, đồng thời luôn sẵn sàng đỡ.

Mốc duy nhất CDC nêu: người cao tuổi không giữ được tư thế tandem trong ít nhất 10 giây là có nguy cơ ngã tăng.

Thiết bị cần: một đồng hồ bấm giây.

2.5. Functional Gait Assessment (FGA)

Đây là công cụ duy nhất được gọi đích danh trong bộ quy trình kỹ thuật hiện hành của Bộ Y tế, tại quy trình số 122 thuộc Quyết định 3554/QĐ-BYT.

Nguồn gốc: Wrisley DM, Marchetti GF và cộng sự, Physical Therapy 2004, tập 84 số 10, trang 906 đến 918.

Cấu trúc: 10 mục, mỗi mục chấm 0 đến 3 điểm, tổng tối đa 30 điểm. Các mục bao gồm đi trên mặt phẳng, đổi tốc độ đi, đi kèm quay đầu theo trục dọc, đi với chân đế hẹp, đi lùi và đi nhắm mắt. Chúng tôi chưa lấy được bản liệt kê đầy đủ 10 mục từ nguồn gốc nên không in danh sách đầy đủ ở đây.

Ngưỡng cắt:

Quần thể

Ngưỡng

Độ nhạy

Độ đặc hiệu

Cỡ mẫu

Người 60 đến 90 tuổi sống tại cộng đồng

22/30 trở xuống

85%

86%

35 (Wrisley và Kumar, 2010)

Bệnh Parkinson, nội trú

18/30 trở xuống

80,6%

80,0%

121 (Yang, 2014)

Cỡ mẫu 35 người là rất nhỏ. Con số 85% và 86% nghe thuyết phục, nhưng phải đọc kèm cỡ mẫu này.

MDC của FGA:

Quần thể

MDC

Cỡ mẫu

Nguồn

Rối loạn tiền đình

6 điểm (MDC95)

326

Marchetti, 2014

Sau đột quỵ

4,2 điểm

45

Lin, 2010

Bệnh Parkinson

4 điểm

22

Petersen, 2016

Một cảnh báo về độ tin cậy. Giá trị ICC liên người đánh giá 0,84 thường được trích dẫn thực ra chỉ dựa trên cỡ mẫu 6 người trong nghiên cứu gốc năm 2004. Đây là cỡ mẫu quá nhỏ để coi là bằng chứng chắc chắn.

2.6. Nghiệm pháp Tinetti (POMA)

Tinetti từng là quy trình số 85 trong Quyết định 5737/QĐ-BYT ngày 22/12/2017. Quyết định đó đã bị thay thế từ ngày 14/11/2025.

Chúng tôi đã rà danh mục 204 quy trình của Tập 1 theo Quyết định 3553/QĐ-BYT và không tìm thấy quy trình nào mang tên Tinetti. Điều này không có nghĩa nghiệm pháp bị cấm dùng, vì Bộ Y tế đặt tên quy trình theo chức năng được lượng giá chứ không chỉ định thang điểm. Nhưng nếu quy trình nội bộ của cơ sở đang viện dẫn Tinetti kèm số hiệu quyết định năm 2017, phần viện dẫn đó cần cập nhật.

Hướng xử lý thực tế: giữ Tinetti như một lựa chọn chuyên môn nếu đội ngũ đã quen dùng, nhưng trong hồ sơ hãy ghi tên quy trình theo danh mục hiện hành, tức lượng giá chức năng thăng bằng mã 17.119 hoặc lượng giá chức năng dáng đi mã 17.118.

2.7. Bảng so sánh sáu nghiệm pháp

Nghiệm pháp

Đo cái gì

Thời gian

Thang điểm

Ngưỡng được nêu

Thiết bị cần

Romberg

Cảm thụ bản thể, cột sau tủy sống

1 đến 2 phút

Dương tính hoặc âm tính, kèm số giây

Không giữ được khi nhắm mắt

Không

Berg (BBS)

Thăng bằng tĩnh và động qua 14 tình huống

15 đến 20 phút

0 đến 56

Dưới 45 điểm (Berg 1992); từ 49 trở xuống ở người sau đột quỵ

Ghế, bục, thước, đồng hồ, dép

Timed Up and Go

Di chuyển chức năng

Dưới 2 phút

Giây

CDC: từ 12 giây. Tài liệu khác: từ 13,5 giây

Ghế tay vịn, vạch 3 mét, đồng hồ

4-Stage Balance

Giới hạn chân đế

Khoảng 1 phút

Giữ được hoặc không

Không giữ tandem 10 giây

Đồng hồ

FGA

Thăng bằng khi đang đi

Khoảng 10 phút

0 đến 30

Từ 22 trở xuống (cỡ mẫu 35); Parkinson từ 18 trở xuống

Sàn 6 mét, đồng hồ

Tinetti (POMA)

Thăng bằng và dáng đi

10 đến 15 phút

Xem ghi chú mục 2.6

Xem ghi chú mục 2.6

Ghế, sàn

3. Chọn test nào cho ai

3.1. Người cao tuổi còn đi lại được, than “dạo này hay chao”

Bắt đầu bằng 4-Stage Balance Test vì nhanh và không cần thiết bị. Thêm Timed Up and Go để lấy mốc theo dõi dọc. Chưa cần chạy đủ 14 mục của Berg ngay ở lần khám đầu.

3.2. Sau đột quỵ

Berg là lựa chọn phù hợp, nhưng cần đúng thời điểm. Hiệu ứng sàn ở ngày thứ 14 sau đột quỵ lên tới 35%, nghĩa là dùng quá sớm sẽ cho ra điểm rất thấp mà không phản ánh được gì. Lưu ý MDC khác nhau theo giai đoạn: 6,9 điểm ở giai đoạn cấp và 2,5 điểm ở giai đoạn mạn.

Sau khi có kết quả lượng giá, phần chương trình tập thăng bằng cho người sau đột quỵ được trình bày trong bài riêng: bài tập thăng bằng sau đột quỵ.

3.3. Sau gãy cổ xương đùi hoặc phẫu thuật chi dưới

Timed Up and Go dùng làm thước theo dõi dọc là hợp lý, với điều kiện giữ nguyên điều kiện đo qua các lần. Xem thêm phục hồi chức năng sau phẫu thuật.

3.4. Nghi tổn thương cảm thụ bản thể

Bệnh thần kinh ngoại biên, biến chứng thần kinh do đái tháo đường, tổn thương cột sau tủy sống. Romberg là test đầu tiên vì đúng cơ chế cần kiểm tra.

3.5. Người than chóng mặt nhưng đi lại bình thường

Đây là nhóm cần khám chuyên khoa trước, không phải nhóm để đưa vào chương trình tập. Chóng mặt kèm mất thăng bằng có thể liên quan rối loạn tiền đình, tim mạch, tác dụng phụ của thuốc hoặc nguyên nhân thần kinh. Lượng giá thăng bằng tại phòng tập không thay thế được bước chẩn đoán này.

4. Test thăng bằng không đi một mình

Một con số thăng bằng tách rời rất khó diễn giải. Bộ lượng giá tối thiểu thường kèm theo hai thứ.

Thang điểm Barthel đo mức độ độc lập trong sinh hoạt hằng ngày. Nó trả lời câu hỏi con số thăng bằng kia có ý nghĩa gì với cuộc sống thật của người bệnh. Chúng tôi chưa tiếp cận được nghiên cứu gốc của thang điểm này nên bài viết không in số mục, thang điểm tối đa hay ngưỡng phân loại.

Sàng lọc nhận thức cần làm trước khi kết luận về thăng bằng. Người không hiểu hoặc không nhớ được y lệnh sẽ cho ra kết quả test thấp giả. MMSE là công cụ phổ biến cho mục đích này. Lưu ý MMSE là công cụ có bản quyền thương mại, nên bài viết không in nội dung thang điểm.

Để hình dung độ rộng của bộ lượng giá hiện hành, Tập 2 theo Quyết định 3554/QĐ-BYT có 32 quy trình lượng giá liên tiếp từ số 81 đến số 112, bao gồm Fugl-Meyer chi trên và chi dưới, phân loại ASIA cho tổn thương tủy sống, MoCA, Nine Hole Peg, Box and Block, ARAT, lượng giá nuốt và nhiều công cụ khác. Lượng giá thăng bằng chỉ là một ô trong bảng đó.

Phần khái niệm chung về quy trình lượng giá được trình bày trong bài lượng giá chức năng vận động trong vật lý trị liệu.

5. Thang điểm nguy cơ té ngã trong bệnh viện

5.1. Khác biệt căn bản

Test thăng bằng đo năng lực. Thang điểm nguy cơ té ngã đo nguy cơ, và nó tính cả những thứ không nằm trong khả năng vận động: thuốc đang dùng, tiền sử ngã, tình trạng nhận thức, thiết bị đang gắn trên người bệnh, tình trạng tiểu tiện.

Hai nhóm công cụ này không thay thế nhau. Một người có điểm Berg tốt vẫn có thể nằm ở mức nguy cơ cao nếu đang dùng ba loại thuốc có nguy cơ và mang sẵn hai đường truyền.

5.2. Johns Hopkins Fall Risk Assessment Tool (JHFRAT)

Công cụ này đang được dùng trong nhiều bệnh viện tại Việt Nam. Cấu trúc gồm bảy nhóm yếu tố:

Nhóm yếu tố

Cách chấm

Tuổi

Dưới 60: 0 điểm. 60 đến 69: 1. 70 đến 79: 2. Từ 80: 3

Tiền sử ngã

Không: 0. Một lần ngã trong 6 tháng qua: 5

Tiểu tiện và đại tiện

Không vấn đề: 0. Tiểu không tự chủ: 2. Tiểu gấp hoặc tiểu nhiều lần: 2. Cả hai: 4

Thuốc (opioid, chống co giật, hạ áp, lợi tiểu, thuốc ngủ, nhuận tràng, an thần, hướng thần)

Không dùng: 0. Một loại: 3. Từ hai loại: 5. Có thủ thuật dùng an thần trong 24 giờ: 7

Thiết bị đang mang (đường truyền, dẫn lưu, ống thông, tất áp lực)

Không: 0. Một: 1. Hai: 2. Từ ba: 3

Vận động

Không vấn đề: 0. Cần trợ giúp hoặc giám sát: 2. Dáng đi không vững: 2. Giảm thị lực hoặc thính lực: 2

Nhận thức

Không vấn đề: 0. Thay đổi ý thức: 1. Bốc đồng: 2. Không nhận thức được giới hạn của bản thân: 4

Phân tầng nguy cơ:

Tổng điểm

Mức nguy cơ

0 đến 5

Thấp

6 đến 13

Trung bình

Trên 13

Cao

Có một điều kiện đặc biệt: người liệt hoàn toàn hoặc bất động hoàn toàn được xếp tự động vào nhóm nguy cơ thấp.

Dữ liệu tại Việt Nam. Nguyễn Phú Cường và Trần Kim Trang, Tạp chí Y học Việt Nam, tập 548 số 1 năm 2025, nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 91 bệnh nhân suy tim nhập viện tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Chợ Rẫy, dùng JHFRAT. Kết quả phân bố: nguy cơ cao 28,6%, nguy cơ trung bình 47,2%, nguy cơ thấp 24,2%. Các yếu tố liên quan gồm hội chứng mạch vành mạn, hạ kali máu, và việc sử dụng furosemide, thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể, cùng nitrate.

Một nghiên cứu khác cho thấy việc huấn luyện có tác dụng rõ. Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Văn Thắng và Elizabeth Esterl, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh 2019, tập 23 số 5, trang 89 đến 94. Nghiên cứu bán thực nghiệm trên 50 điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh An Giang, từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2019. Kỹ năng thực hành sử dụng JHFRAT tăng từ 4,58 lên 6,92 điểm, tương ứng từ 57,2% lên 86,5%.

Điểm rút ra cho người vận hành: công cụ chỉ chạy đúng khi người dùng được huấn luyện.

5.3. Thang điểm Morse (Morse Fall Scale)

Gồm sáu mục:

Mục

Điểm

Tiền sử ngã

0 hoặc 25

Chẩn đoán thứ phát

0 hoặc 15

Dụng cụ trợ giúp đi lại

0, 15 hoặc 30

Đường truyền tĩnh mạch hoặc khóa heparin

0 hoặc 20

Dáng đi

0, 10 hoặc 20

Tình trạng tâm thần

0 hoặc 15

Phân tầng: 0 điểm là không có nguy cơ; dưới 25 điểm là nguy cơ thấp; 25 đến 45 điểm là trung bình; trên 45 điểm là cao.

5.4. Humpty Dumpty

Đây là thang điểm dành cho trẻ em, không dùng cho người lớn. Nêu ở đây để tránh nhầm lẫn khi tra cứu, vì cụm từ khóa này thường xuất hiện chung với các thang điểm té ngã người lớn.

6. Ba điều con số test thăng bằng không nói được

6.1. Không nói được người này sẽ ngã hay không

Đây là giới hạn lớn nhất và cần nói thẳng. Bằng chứng đã trình bày ở mục 2.3: Timed Up and Go cho AUC 0,57 trên 2.314 người. Thang Berg được đánh giá chỉ có độ chính xác chẩn đoán trung bình khi dùng một mình.

Test thăng bằng mô tả hiện trạng và theo dõi thay đổi. Nó không phải máy dự báo.

6.2. Không nói được nên tập loại hình nào

Sherrington C và cộng sự, Cochrane 2019, mã CD012424, công bố ngày 31/01/2019. Tổng hợp 108 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với 23.407 người tại 25 quốc gia, tuổi trung bình 76, 77% là nữ. Quần thể là người cao tuổi sống tại cộng đồng.

Can thiệp

Hiệu quả trên tỷ lệ ngã

Số nghiên cứu, số người

Mức chắc chắn

Tập luyện nói chung

Giảm 23%. RaR 0,77 (0,71 đến 0,83)

108 RCT, 23.407 người

Cao

Bài tập thăng bằng và chức năng

Giảm 24%. RaR 0,76 (0,70 đến 0,81)

39 NC, 7.920 người

Cao

Phối hợp nhiều loại hình

Giảm 34%. RaR 0,66 (0,50 đến 0,88)

11 NC, 1.374 người

Trung bình

Thái cực quyền

Giảm 19%. RaR 0,81 (0,67 đến 0,99)

Không nêu ở bản tóm tắt

Thấp

Tập kháng trở đơn thuần

Không đủ bằng chứng

 

 

Đi bộ đơn thuần

Không đủ bằng chứng

 

 

 

6.3. Không áp được từ cộng đồng sang cơ sở chăm sóc dài hạn

Toàn bộ số liệu ở mục 6.2 áp dụng cho người sống tại cộng đồng. Với người đang ở viện dưỡng lão hoặc cơ sở chăm sóc dài hạn, bức tranh từng rất khác.

Bản Cochrane năm 2018 (Cameron ID và cộng sự, mã CD005465, 71 nghiên cứu với 40.374 người trong nhóm cơ sở chăm sóc) kết luận hiệu quả của tập luyện lên tỷ lệ ngã là không chắc chắn, với bằng chứng chất lượng thấp đến rất thấp.

 Dyer SM và cộng sự, Cochrane, mã CD016064, công bố ngày 26/08/2025, tổng hợp hơn 100 thử nghiệm lâm sàng với gần 69.000 người ở 25 quốc gia. Kết luận mới cho thấy chương trình tập luyện được cá thể hóa, cường độ thấp đến trung bình, triển khai theo nhóm, do kỹ thuật viên vật lý trị liệu hoặc nhân viên đã qua đào tạo hướng dẫn, có tác dụng giảm ngã, kể cả ở người có sa sút trí tuệ. Khuyến nghị về liều là tối thiểu một giờ mỗi tuần với người còn đi lại được. Bổ sung vitamin D và chế độ ăn giàu sản phẩm sữa cũng nằm trong nhóm can thiệp có hiệu quả.

6.4. Bốn câu hỏi thường gặp về té ngã

Té ngã là gì? Là sự kiện một người vô tình rơi xuống mặt sàn, mặt đất hoặc một mặt phẳng thấp hơn, không do lực tác động mạnh từ bên ngoài và không do đột quỵ hay co giật.

Té ngã có ảnh hưởng gì không? Ngoài chấn thương trực tiếp, hậu quả thường bị bỏ qua là nỗi sợ ngã. Nó dẫn tới hạn chế vận động, kéo theo giảm sức cơ và giảm thăng bằng, từ đó làm tăng nguy cơ ngã tiếp.

Té ngã ở người già có nguy hiểm không? Có. Ở người cao tuổi, ngã là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới gãy xương, đặc biệt gãy cổ xương đùi, và có thể kéo theo mất khả năng sống độc lập. Đây là lý do các bệnh viện đưa đánh giá nguy cơ té ngã thành quy trình bắt buộc khi nhập viện.

7. Thiết bị hỗ trợ phục hồi chức năng thăng bằng

7.3. Khung tập đi và khung tập đi phục hồi chức năng

Đây là món có ứng dụng rộng nhất trong nhóm này. Khung tập đi mở rộng chân đế và cho người bệnh một điểm tựa ổn định khi tập chuyển trọng tâm, đi bước ngắn, hoặc tập đứng lên ngồi xuống có kiểm soát.

>> Xem thêm nhóm thiết bị phục hồi chức năng.

7.4. Bóng tập thăng bằng

Món chi phí thấp, dùng cho các bài tập thử thách thăng bằng ở người đã đạt mức độc lập cơ bản. Cần giám sát khi sử dụng.

7.5. Các nhóm thiết bị liên quan

Khi chương trình tập chuyển sang giai đoạn tăng sức bền và tập dáng đi, các nhóm sau có vai trò riêng: máy tập đi bộxe đạp tập phục hồi chức năng.

>> Xem thêm: Hệ thống đo luyện tập đánh giá chức năng thăng bằng

Câu hỏi thường gặp

Nghiệm pháp Romberg là gì và khi nào dương tính?

Romberg là nghiệm pháp cho người bệnh đứng chụm hai chân rồi nhắm mắt, nhằm kiểm tra chức năng cảm thụ bản thể do cột sau tủy sống đảm nhiệm. Nghiệm pháp dương tính khi người bệnh không giữ được thăng bằng lúc nhắm mắt, biểu hiện bằng tăng dao động thân, phải bước chân đỡ, hoặc ngã. Đây không phải nghiệm pháp kiểm tra tiểu não.

Test thăng bằng có phát hiện được người sắp ngã không?

Không đủ khi dùng một mình. Phân tích gộp 10 bộ dữ liệu trên 2.314 người cho thấy Timed Up and Go ở ngưỡng 13,5 giây chỉ đạt độ nhạy 0,32 và AUC 0,57, gần với mức đoán ngẫu nhiên. Đánh giá nguy cơ ngã cần kết hợp nhiều yếu tố, bao gồm tiền sử ngã, thuốc đang dùng và tình trạng nhận thức.

Thang điểm Berg bao nhiêu điểm là bình thường?

Tổng tối đa là 56 điểm. Theo nghiên cứu gốc Berg 1992, 56 điểm thể hiện thăng bằng chức năng bình thường và dưới 45 điểm cho thấy nguy cơ ngã cao hơn. Quan trọng hơn ngưỡng là biên độ sai số: chênh lệch dưới 4 đến 7 điểm tùy mức điểm ban đầu chưa được coi là thay đổi thật.

Thang điểm Barthel dùng để làm gì?

Thang điểm Barthel đo mức độ độc lập của người bệnh trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày. Nó thường đi kèm test thăng bằng để xác định kết quả lượng giá vận động có ý nghĩa gì với khả năng tự chăm sóc trong đời sống thực tế.

Thang điểm đánh giá nguy cơ té ngã Johns Hopkins là gì?

Là công cụ chấm điểm nguy cơ té ngã dùng trong bệnh viện, tính theo bảy nhóm yếu tố gồm tuổi, tiền sử ngã, tình trạng tiểu tiện và đại tiện, thuốc đang dùng, thiết bị đang mang, khả năng vận động và nhận thức. Tổng 0 đến 5 điểm là nguy cơ thấp, 6 đến 13 điểm là trung bình, trên 13 điểm là cao.

Té ngã ở người già có nguy hiểm không?

Có. Ngã là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới gãy xương ở người cao tuổi, đặc biệt là gãy cổ xương đùi, và thường kéo theo giảm khả năng sống độc lập. Ngoài chấn thương, nỗi sợ ngã cũng làm người bệnh hạn chế vận động, từ đó làm thăng bằng xấu đi.

Mất thăng bằng kèm chóng mặt có phải rối loạn tiền đình không?

Không nhất thiết. Chóng mặt kèm mất thăng bằng có thể liên quan tiền đình, tim mạch, tác dụng phụ của thuốc hoặc nguyên nhân thần kinh. Cần đi khám để xác định nguyên nhân trước, vì lượng giá và tập luyện tại phòng tập không thay thế được bước chẩn đoán.

Cần mua máy gì để làm test thăng bằng?

Để lượng giá thì gần như không cần mua máy. Đồng hồ bấm giây, ghế cao 18 đến 20 inch, bục, thước, ba mét sàn phẳng và một chiếc dép là đủ cho cả sáu nghiệm pháp trong bài. Thiết bị chỉ thật sự cần khi chuyển sang giai đoạn tập và cần bảo hộ chống ngã.

Lượng giá thăng bằng có phải kỹ thuật được Bộ Y tế công nhận không?

Có. Đây là quy trình số 112, mã 17.119, trong tài liệu “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về Phục hồi chức năng Tập 1” ban hành theo Quyết định 3553/QĐ-BYT ngày 14/11/2025.

Tập thăng bằng có thật sự giảm té ngã không?

Có, với bằng chứng mức độ chắc chắn cao ở người cao tuổi sống tại cộng đồng. Tổng hợp 39 nghiên cứu trên 7.920 người cho thấy bài tập thăng bằng và bài tập chức năng giảm 24% tỷ lệ ngã. Với người đang ở cơ sở chăm sóc dài hạn, bản cập nhật Cochrane năm 2025 cũng ghi nhận hiệu quả của chương trình tập được cá thể hóa, với liều tối thiểu một giờ mỗi tuần.